Tin Tức

Kiểu Tin Tức

Tóm Lược:

Tin tức về làng nghề thủ công truyền thống trong và ngoài nước , các mẫu sản phẩm độc đáo sẽ được cập nhật hàng ngày . Hãy theo dõi những thông tin bổ ích của chúng tôi.


SuBatTrangOnline.Com


Mới Cập Nhật

02/08/2011
   Giúp thanh niên khởi nghiệp với nghề truyền thống
   Quá trình bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống đang đặt ra những thách thức mới. Trong mối lo ngại nghề truyền thống mai một, việc giữ được làng nghề hơn lúc nào hết càng trở nên cấp bách. Đây không chỉ là một cách để phát triển kinh tế, giúp chuyển đổi cơ cấu lao động ở nông thôn, mà còn góp phần gìn giữ những nét văn hóa của từng vùng miền, mỗi địa phương.

Xem Tiếp

02/08/2011
   Phát hiện nhóm cổ vật gốm sứ thời Lý - Trần
   Ngày 26.7, ông Lê Bá Hạnh - Phó giám đốc Bảo tàng Hà Tĩnh, cho biết nhóm cán bộ chuyên môn của ngành đã phát hiện một số cổ vật quý hiếm thời Lý - Trần trên địa bàn huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh).

Xem Tiếp

26/12/2010
   Chất liệu mới tạo ánh sáng tự nhiên như ban ngày
   Chất liệu này là thành quả của dự án nghiên cứu kéo dài 13 năm qua của các nhà khoa học tại Đại học Michigan và trường USC (Mỹ). Họ tin tưởng nó sẽ làm biến đổi cách mọi người thắp sáng trong gia đình và công sở...

Xem Tiếp


Hỗ Trợ Trực Tuyến

Kinh Doanh:

Click here to chat

Tư Vấn 1:

Click here to chat

Tư Vấn 2:

Click here to chat

HotLine:

0989.869.271

Phương Thức Mua Hàng:

Xem Ngay

Email:

SuBatTrangOnline@gmail.Com

Thanh Toán Bằng Tài Khoản Ngân Hàng


Bạn Đồng Hành Của Bạn

Trang Chủ >>> Tin Tức >>>  Gốm Sứ Bát Tràng >>>  Người viết lịch sử Bát Tràng bằng hình ảnh
Người viết lịch sử Bát Tràng bằng hình ảnh

Người viết lịch sử Bát Tràng bằng hình ảnh

  18/10/2010

Có buổi chiều, ngửa mặt lên bầu trời có màu mây sữa loãng, ta bắt gặp một đàn cà kếu di cư, bay từ chân trời này về chân trời kia, thả tiếng kêu khuất chìm vào vô tận. Ta không hiểu rồi đàn chim ấy phiêu giạt đến đâu và dừng cánh lại nơi nào mà sinh sôi nảy nở hay có lúc nào nhớ về bản quán quê xa….

Hơn trăm năm trước (có người nói còn nhiều hơn thế nữa) có đoàn người rời bỏ xứ Thanh Hoá ngược ra Bắc để tìm đất sống. Họ có là đàn chim di cư kia không nhỉ? Giống mà không giống. Giống ở chỗ phải phiêu bạt như một kiếp bềnh bồng chưa tìm ra đất dựng nghiệp, nhưng không giống vì họ đã tồn tại và tự khẳng định mình, không tan biến đi, không mai một đi, ngược lại còn phát triển tài hoa và sự nghiệp đến ngày nay, và chắc còn đến nhiều đời sau này nữa.

Kinh thành Thăng Long thủa ấy chắc chưa thể tấp nập rộn ràng ngựa xe như nước giống ngày nay, thế kỷ XXI. Cuối kinh thành kia, nơi con sông cứ cuồn cuộn bao làn phù sa hồng thắm, nơi chân đê cỏ mượt, hẳn còn bờ lau khóm trúc đìu hiu, chiếc lều nứa, chiếc túp tre được dựng lên, bữa cơm đầu tiên, đúng hơn là bữa cháo đầu tiên đặt trên ba hòn đá chênh vênh mà nổi lửa, hẳn còn phải che gió bốn chiều lồng lộng, người cầm hơi mà đùm bọc lấy nhau. Nói bữa cháo đầu tiên là chắc chắn vì hôm nay đây, ngày hội làng, ngày giỗ tổ, cả làng Bát Tràng có tục lệ cúng bằng cơm nắm và cháo hoa, dù là mâm tiệc lớn cũng không thể thiếu món cháo hoa, cơm nắm ngon lành và lịch sử…

Dòng tên Bát Tràng sinh ra từ đó, cái Tràng làm bát bằng gốm nung, bằng sứ trắng, cho ra loài bát chiết yêu gẫy lưng, cho ra những chiếc bát đàn men nâu còn thô nhám, mà nay ai có được hẳn nắm trong tay loài gốm cổ đầy giá trị.

Đã có thời Bát Tràng làm gạch là chính, thứ gạch ca dao, thứ gạch tình yêu, thứ gạch nấu nung mơ ước


Ước gì anh lấy được nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân


Đấy là ao ước của chàng trai kinh thành chăng hay là của bất cứ chàng trai đất Bắc nào nghĩ về đôi lông mày lá liễu?

Từ những cánh chim di cư tha phương ấy, tạm tính là năm trăm năm thì đến nay, dân làng cổ, làng nghề Bát Tràng đã trải qua hơn hai mươi thế hệ. Khách du đến Bát Tràng hẳn phải ngạc nhiên đến sững sờ khi đi trong làng quanh co lối ngõ, có nhiều khúc hai người tránh nhau đã chật, một người giả vờ làm trẻ con, giang rộng hai tay thì hai đầu ngón tay chạm vào tường hai bên. Thấp thoáng trong tường còn tỏ mờ ẩn hiện mấy đường cong hay nửa hình tam giác giống như mái nhà toà thành cổ Hy Lạp, đó chính là mái lò trước kia từng nung đất thành sản phẩm mà dâu bể thời gian, tường lún dần theo bao mùa lũ, bây giờ ta chạm tay vào được để tần ngần nhớ bóng ngày xưa, người thợ nào làm đất, người thợ nào vào lò, ra lò, người thợ nào nâng niu chiếc bình hay chiếc bát khi đất bùn qua lửa hoàn nguyên thành sản vật đáng quý đáng yêu. Cũng không tưởng tượng được có bao nhiêu sân phơi than dựng theo chiều thẳng đứng mà không nằm ngang như sân phơi lúa, phơi ngô ở bao làng đồng bằng quen thuộc. Những nắm than được ném mạnh lên tường, nó ăn hơi nóng của lửa lò, tự khô đi để sẽ hoá thân cho phừng phừng điệu múa nghìn độ nóng.

Cả làng không một bóng tre xanh, không một hàng rào trúc, chỉ có ngõ gạch và dập dìu du khách cùng những người thợ tài hoa, vung ngọn bút lông uốn lượn mà thành hình khe thế núi, thành màu men nghìn năm bóng lộn, thành ảnh hình chàng Kim Trọng gặp nàng Kiều, thành chàng kỵ mã đang vượt cây cầu để tìm về khoang cửa tròn có bóng giai nhân lơ thơ tơ liễu…

Bát Tràng ngày nay có hàng nghìn người thợ miệt mài ngày đêm cùng đất và lửa, trong đó có hàng trăm con người tài hoa, đứng mũi chịu sào trước công cuộc làm ăn đổi mới, cho ra lò mỗi năm hàng chục triệu sản phẩm, đi khắp đất nước và cũng đi ra hàng chục nước trên thế giới, mà kia, từng đoàn xe vận tải, hối hả bốc hàng, từng đoàn thuyền gỗ, thuyền mành ghé vào giang tân trước cửa đình để ngược xuôi trăm nẻo.

Bát Tràng từ làm đồ gốm dân dụng thô sơ, tiến lên làm hàng thủ công mỹ nghệ và nay còn làm hàng mỹ thuật nữa. Từ chiếc bát ăn cơm, bộ ấm pha trà đến những chiếc bình hoa, rồi mặt trống đồng, những pho tượng đủ màu, cho đến bao nhiêu đồ men rạn, loài men đã được phục hồi đầy kỳ thú, nó là hai màu men chồng lên nhau như hai màu áo phủ lên bờ vai ngọc ngà thon thả của cô gái thắt đáy lưng ong mê hồn tài tử…

Bát Tràng đã có nhiều người được phong danh hiệu “Nghệ nhân” và “Bàn tay vàng” như Vũ Đức Thắng, Trần Độ, Tô Thanh Sơn, Lê Minh Ngọc. Có người người nghĩ ra nhiều sản phẩm mới như bình hoa là một trống đồng, người khác làm ra đôi lọ lộc bình có chiều cao 3,2 mét, to nhất từ xưa tới nay ở Việt Nam, nói cho dễ hiểu là cao gấp hai chiều cao của một người bình thường…

Trong số hàng trăm con người tài hoa ấy thì có một người cũng rất đáng chú ý, không những anh làm gốm theo nghề nghiệp của cha ông, mà anh còn yêu thêm một con đường khác nữa. Đó là Lâm Trúc, gọi theo kiểu ghép cả tên con trai cho khỏi nhầm lẫn là anh Lâm Trúc Quỳnh.

Một làng cổ, một làng nghề có lịch sử lâu đời, một làng được gọi là làng khoa bảng nữa (có nhiều tiến sĩ, trong đó có trạng nguyên Giáp Hải được thờ ở Văn chỉ làng và thờ ở cả Bắc Ninh nữa) thì lịch sử diễn ra hàng ngày theo dòng thời gian bất tận, cứ xuôi đi như dòng Nhĩ Hà cuồn cuộn ngoài kia, vì không có người ghi lại nên đã mai một đi không biết bao hình ảnh quý giá khó mà lưu giữ lại được trong ký ức.

Lâm Trúc làm gốm, là người phổ hồn vào bùn vào lửa, phổ hồn vào gốm, một thanh niên có mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ nhưng lại có vóc dáng hiên ngang như lực sĩ, một anh bộ đội cởi bỏ bộ quân phục trải rộng bao miền, trở về làng khôn nguôi nung nấu phát triển nghề gốm truyền đời, nhưng vẫn âm thầm ao ước làm thêm một nghề lưu giữ lịch sử cho làng nghề thân thương nữa.

Anh từng đi học trường trung cấp điện tử, công tác liền 6 năm trên miền núi, cũng từng là chiến sĩ thông tin của Trung đoàn Thủ Đô, đến năm 1975 mới xuất ngũ, về làm công nhân ở xí nghiệp Hanel… Gần ba mươi tuổi, người thanh niên ấy quyết tâm ở lại làng mình, lấy một cô giáo làng dạy cấp hai để yên bề gia thất. Nhưng anh lại không yên ổn trong tâm hồn, mà luôn có gì đó cựa quậy, có gì đó thúc giục niềm mơ ước và sáng tạo. Thế là năm 1985, Lâm Trúc về hưu non để phát triển nghề gốm cổ truyền với mong mỏi làm ra được những sản phẩm không chỉ thông thường mà vượt qua những tầm cao mới, trước mắt là cải tiến ngọn lửa lò, thay lò than bằng lò gas, vẽ mẫu trực tiếp những gì nung nấu trong tâm can, đúng là thổi hồn nghệ sĩ vào ngọn lửa…

Nếu chỉ có thế thôi, cũng là một người lao động tốt đáng khen. Nhưng Lâm Trúc không nguôi mong ước được làm người ghi lịch sử làng nghề mình và nghề gốm của mình, nhằm lưu giữ cái đang đi qua, đang lướt nhanh như bóng đàn chim sếu mất hút vào nền trời xanh thẳm kia.

Việt Nam ta có những người ghi lịch sử bằng hình ảnh như cụ Võ An Ninh, ông Nguyễn Bá Khoản và nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh lừng danh khác, chẳng hạn Đỗ Huân, Đinh Đăng Định, Mai Nam, Đinh Quang Thành… Lâm Trúc nung nấu ý tưởng trở thành một người đi theo con đường của họ, có gian nan nhưng đầy vinh quang trong thử thách. Lò nung cứ nổi lửa. Bấm nút một cái là ngọn lửa xanh thần kỳ bắt bùn đất thành vàng bạc cho làng nghề, mà cụ thể là cho những con người của làng nghề cổ truyền, cũng là cho đất nước. Anh mạnh dạn đầu tư tiền bạc vào việc tìm mua những chiếc máy ảnh tốt nhất và tìm hiểu, học hỏi, bắt thân với nhiều nghệ sĩ sống trong Hà Nội, chỉ cách làng cổ một thôi đường đi thuận tiện.

Được cô giáo làng, đương kim là vợ ủng hộ, anh đã dùng thời gian của mình vào việc bấm máy liên tục suốt nhiều năm, chụp từ tấm bia đá không có chữ của văn chỉ làng, chụp những con ngõ nhỏ quanh co mà than phơi như một loài hoa kỳ dị, chụp những gương lò toả sáng, chụp những đoàn thuyền ghé bến cửa đình để vượt tới trăm nơi mang đi sản phẩm là những mảnh hồn tri kỷ ẩn tàng trong chất gốm nuột nà còn hổn hển gió sương vùng đất bãi…

Chỉ riêng làng tiến hành công việc dựng lại ngôi đình cổ, Lâm Trúc đã sẵn sàng máy ảnh, ghi hình ngay từ lúc mới chuẩn bị họp bàn, nhát cuốc đào móng đầu tiên, viên gạch đầu tiên, bức tường hiện ra, ngày cất nóc, hôm lát sân, lúc xây cột trụ…

Với trên 500 bức ảnh đã hoàn thành, đúng là lịch sử dựng đình đã được ghi đầy đủ, ai xem lại cũng hào hứng và vui mừng khi công trình lịch sử đó được bảo tồn bằng hiện vật nhìn thấy được và sờ vào được…

Tranh Hàng Trống một thời có bộ tứ bình Xuân, Hạ, Thu, Đông. Lâm Trúc đã dùng máy ảnh ghi bộ tứ bình mới cho Bát Tràng làng cổ. Bốn mùa hay bốn cảnh trí làng nghề đây, khi con mắt người thợ gốm, người nghệ sĩ tạo mẫu cho gốm, người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã khắc khoải chọn tìm và gửi gắm cả hồn mình vào khoảnh khắc.

Từ những thành công ban đầu về lưu giữ hình ảnh ấy, Lâm Trúc tiến xa hơn, anh bỏ nhiều công sức ra sưu tầm ảnh của trăm nhà, để sẽ có thể dễ dàng làm cuốn lịch sử làng nghề bằng hình ảnh, ảnh đen trắng và ảnh màu, ảnh những công trình vật thể, ảnh bến sông và những mái lò, ảnh những cửa hàng trưng bày đồ gốm, ảnh từng đoàn khách du lịch về thăm làng cổ… mà quan trọng nhất là chân dung nhiều con người, từ người cao tuổi đã về với muôn trùng cho đến những con người đang tung ngọn bút cho từng sản phẩm mang hồn non nước Việt Nam…

Lâm Trúc không phải là một người thợ ảnh, người thợ gốm theo nghĩa thông thường. Anh sẵn sàng vác máy (đeo máy thì đúng hơn) đến mọi đám tang, đám cưới để ghi hình, dù nhiều khi các gia đình đó không yêu cầu. Với anh, đây là dịp được làm một công việc thích thú và hữu ích, lại có thể tự nâng cao trình độ nghề nghiệp cần tử công phu và thời gian tôi luyện. Cũng vì thế mà đã đôi ba lần có người tìm đến với anh, thiết tha xin giúp đỡ bằng cách nhờ anh tìm lại cho một tấm ảnh chụp chân dung người thân yêu của họ mà gia đình không còn lưu giữ lại được. Lâm Trúc tìm giở trong cái kho đồ sộ bao nhiêu năm kia ra, một tấm ảnh mang nhiều vết thời gian sôi động, một tấm ảnh có một không hai, một tấm ảnh đầy nhân tình quý báu… khiến gia đình kia phải chứa chan vui mừng và không thể lấy gì ra mà đền đáp tấm tình cảm của người chụp. Lúc này anh càng cảm thấy niềm vui được làm người ghi lịch sử làng bằng hình ảnh cụ thể, có thể giúp được bao người trong làng ngoài họ, một việc nhỏ nhưng ý nghĩa lại vô cùng lớn lao và quý giá.

Người ta thường nói “buôn có bạn, bán có phường”. Với Lâm Trúc thì đây là chân lý, dù chụp ảnh nghệ thuật, dù chụp ảnh để lưu giữ thời gian đâu phải chuyện buôn hay bán. Anh luôn phải đi về Hà Nội- Bát Tràng, việc chụp ảnh tạo cho anh nhiều điều kiện gần gũi nhiều bạn bè là văn nghệ sĩ, từ lớp trẻ hơn, từ lớp đồng niên đồng tuế cho đến nhiều nghệ sĩ bậc thầy đã nổi tiếng trong làng hội họa và nhiếp ảnh.

Lâm Trúc cũng xác định, nghề gốm là nghề nuôi sống gia đình, còn nghề ảnh chỉ là nghề chơi, mà chơi một cách khá tốn tiền, may sao người bạn đời của anh, cô giáo Lụa, đã đồng tình và khuyến khích chồng mình trên con đường vạn lý ghi hình bằng phim ảnh ấy.

Cùng với bạn bè và đồng nghiệp, anh cũng đã rong ruổi trên các nẻo đường đất nước, lên Sa Pa trong mùa hoa nở, lội núi vượt cổng trời toàn đá tai mèo để chụp ảnh, xuôi Nam xuyên Việt, ra vùng bể sóng gió trùng khơi, đi trong lòng Hà Nội để lưu giữ ảnh hình phố cổ… Nhưng quan trọng nhất vẫn là ghi lại mọi biến thiên của làng cổ quê mình, những bàn tay vàng, những gương mặt nghệ nhân, những cô gái vẽ hoa bình thường, những người thợ nhào đất, những sản phẩm tiêu biểu, những đám cưới đông vui, những ngày hội làng có rước nước sông Hồng, có tế lễ vang lừng chiêng trống, những bữa tiệc cổ truyền có cháo hoa, cơm nắm, những đứa trẻ được đón từ nhà hộ sinh, những lớp học trường làng nhộn nhịp…

Có những tấm ảnh mà cả làng khen ngợi cho là quý báu, vì nếu không ghi lại khoảnh khắc này thì khổng thể nào, không ai có thể lưu giữ được: Tấm ảnh ghi cảnh lũ sông Hồng dâng cao, làm cả sân đình chìm ngập trong màu lũ đỏ, con lũ mấy trăm năm đều có nhưng chỉ một tấm ảnh này ghi lại được. Hoặc tấm ảnh đôi lọ lục bình của Lê Minh Ngọc, cao 3,2 mét, được 6 người khiêng nằm ngang qua cửa đình để chuyển đi triển lãm ở Văn Miếu Hà Nội khiến nhiều người nhất trí tặng anh danh hiệu: Người viết lịch sử của làng cổ Bát Tràng bằng hình ảnh.

Cũng vì thế mà nhiều người Bát Tràng đều đề nghị Lâm Trúc mở một nhà ảnh ngay trong làng, song song với nghề làm gốm để tiện cho cả làng có nơi ghi hình, một yêu cầu cần thiết mà từ trước tới nay, hễ có việc gì cần thì đều phải sang Hà Nội. Một yêu cầu hợp lý. Lâm Trúc rút được kinh nghiệm hai mươi năm cầm máy ảnh, anh thấy phổ được hồn vào gốm, phổ được hồn vào ảnh, đã tự chụp và sưu tầm được một kho tàng hình ảnh phong phú, lại có thêm nhiều thày, nhiều bạn sẵn sàng ủng hộ, thì đáp ứng yêu cầu này không khó, đương nhiên anh không thể trở thành một người thợ ảnh đi bấm máy rong trong hiếu hỉ, mà phải là người bấm máy với lương tâm và nghệ thuật, làm cho mình mà cũng là làm cho mọi người, cho làng cho xã, cho dân… giống như bất cứ một công việc xã hội nào của làng, khi cần là anh sẵn sàng có mặt.

Những đàn sếu đã bay xa. Những con người Bát Tràng đã hội tụ về bến sông nơi phía đông nam kinh thành Thăng Long- Hà Nội để gieo mầm sống, giao mầm người mà nảy nở cho cuộc đời những tia sáng lung linh. Cùng bao nghệ nhân tài hoa khéo léo, có một Lâm Trúc đang góp phần làm cho Bát Tràng đi lên đầy tưng bừng và hạnh phúc.

Báo Hà Nội Mới

Lên Đầu TrangLên Đầu Trang In Bài NàyIn Bài Này Email Cho Bạn BèEmail Cho Bạn Bè

Chia Sẻ Thông Tin Qua:

facebook  twitter  google  yahoo  linkhay digg delicious reddit blog stumbleupon

Các Bài Viết Liên Quan

Trang Chủ Tin Tức Sản Phẩm Liên Hệ (0989.869.271)Click here to chat Phương Thức Mua Quay Lại RSSrss
X